HIỆP HỘI KHỞI NGHIỆP QUỐC GIA

Nơi ươm mầm và nâng tầm doanh nhân Việt

Trong vài thập niên vừa qua, chúng ta đã chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của các hoạt động khởi nghiệp kinh doanh trên khắp thế giới và cũng nhận ra được giá trị to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của các doanh nghiệp mới. Cùng với xu hướng phát triển số lượng các doanh nghiệp mới trên toàn thế giới, Việt Nam cũng nằm trong trào lưu này. Trong giai đoạn 2000-2009, số lượng đăng ký kinh doanh trung bình tăng 22 phần trăm mỗi năm. Trong thời gian này, số lượng các doanh nghiệp ở Việt Nam đã tăng đáng kể, riêng năm 2000-2001 tăng 37 phần trăm, 2003-2004 tăng 34 phần trăm và 2008-2009 tăng 29 phần trăm. Trong năm 2008 và 2009, mặc dù nền kinh tế khó khăn do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, số lượng doanh nghiệp được đăng ký vẫn tiếp tục tăng. Số lượng doanh nghiệp được đăng ký năm 2008 tăng 12,2 phần trăm so với 2007, và số lượng doanh nghiệp được đăng ký năm 2009 tăng 29,4 phần trăm so với năm 2008. Từ năm 2010 đến nay, cho dù khủng hoảng kinh tế, mỗi năm Việt Nam cũng có khoảng trên 70.000 doanh nghiệp mới được thành lập nữa.

Tự do kinh doanh – quan niệm cho rằng mỗi cá nhân đều có quyền biến ý tưởng của mình thành một doanh nghiệp, đã trở thành nền tảng cho tất cả các hoạt động kinh doanh hiện nay. Môi trường kinh doanh không ngừng thay đổi tạo ra vô số cơ hội tiềm tàng cho các doanh nghiệp, chỉ cần họ nhìn ra ý tưởng sinh lời trong dòng chảy hỗn loạn và đầy may rủi này. Chính vì vậy, trong vài thập niên qua, trên khắp toàn cầu, các doanh nghiệp mới không ngừng xuất hiện và tạo ra hàng triệu việc làm mới. Nhiều doanh nghiệp như Apple Computer, Federal Express, Intel, Microsoft, Facebook, Google hay ở Việt Nam như FPT, Mailinh, Alphanam, Trung Nguyên… đã nắm bắt được điểm sáng của nền kinh tế bằng cách chứng tỏ rằng các ý tưởng khởi đầu từ những doanh nghiệp nhỏ ngày nay có thể tạo ra những tập đoàn hùng mạnh trong tương lai. Trải qua nhiều bài học đắt giá, các tập đoàn giờ đây đã nhận ra rằng tinh thần khởi nghiệp kinh doanh trong những người tạo ra các công ty mới cũng có thể hiển hiện ngay trong phạm vi tổ chức của họ. Ngọn lửa khởi nghiệp kinh doanh đã lan tỏa khắp thế giới và các doanh nghiệp mới này có những đóng góp thiết yếu đối với nền kinh tế quốc gia và quốc tế. Đồng thời họ cũng gặp rất nhiều khó khăn trên con đường xây dựng khát vọng.

Trong một phân tích về mối quan hệ giữa dân số, số lượng doanh nghiệp trên đầu người và tổng thu nhập quốc nội, tác giả Đinh Việt Hòa đã có bài “Phát triển thêm nhiều doanh nghiệp để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,” đăng trên Tạp chí Lý luận Chính trị, số tháng 2 năm 2013. Bài viết đã đưa ra số liệu thống kê sau:

Bảng 1: Tỷ lệ số người trên một doanh nghiệp ở một số quốc gia

Quốc gia

Dân số (người)

Số doanh nghiệp

Thu nhập
bình quân (USD)

Trung bình người/
doanh nghiệp

Xingapo

5.183.000

161.000

49.270

32

Hoa Kỳ

313.802.000

6.500.000

48.386

48

Nhật Bản

127.799.000

4.703.000

34.739

27

Đức

81.799.600

1.665.329

37.896

49

Philíppin

92.337.832

780.437

4.073

118

Việt Nam

91.519.209

448.393

1.300

204

Nguồn: Đinh Việt Hòa (Số tháng 2, 2013), Phát triển thêm nhiều doanh nghiệp để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Tạp chí Lý luận Chính trị.

Quả thực, với bảng thống kê trên đây, ta thấy Xingapo là nước có tỷ lệ số người trên một doanh nghiệp thấp nhất, chỉ có 32 người/1 doanh nghiệp, trong khi đó mức thu nhập bình quân đầu người ở Xingapo lại cao nhất (49.270 USD/người, năm 2011). Các quốc gia khác như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức cũng tương tự với tỷ lệ lần lượt 48 người, 27 người và 49 người/doanh nghiệp và thu nhập bình quân đầu người của họ cũng rất cao như Hoa Kỳ thu nhập bình quân 48.386 USD/người, Nhật Bản có thu nhập bình quân 34.739 USD/người và Đức có thu nhập bình quân 37.896 USD/người. Trong khi đó, nhóm các quốc gia có thu nhập thấp, mà đơn cử Philíppin và Việt Nam chỉ có mức thu nhập 4.073 USD/người và 1.300 USD/người và khi ta nhìn vào tỷ lệ số người trên một doanh nghiệp lại rất cao. 

Từ chính những phân tích trên đây, nếu Việt Nam muốn có nền kinh tế phát triển như Xingapo, chúng ta cần phải có khoảng 3 triệu doanh nghiệp, tức là chúng ta còn thiếu khoảng 2,5 triệu doanh nghiệp, nếu so với Hoa Kỳ, hay Nhật, Đức thì chúng ta cũng cần có thêm khoảng 2 triệu doanh nghiệp tức là chúng ta còn thiếu khoảng 1,5 triệu doanh nghiệp.[1]

Số lượng doanh nghiệp cao hay thấp sẽ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định mức thu nhập cao hay thấp của một quốc gia. Hay nói cách khác, để phát triển kinh tế của một quốc gia, thì quốc gia đó cần phải đưa ra một chiến lược dài hạn nhằm phát triển, nâng cao số lượng doanh nghiệp thông qua các hàng loạt các chính sách hỗ trợ từ việc thay đổi triết lý giáo dục, thay vì đào tạo sinh viên trở thành những người có khả năng chuyên môn cao để đi xin việc, thì dạy cho các em cách ra trường để tự khởi nghiệp, đến đơn giản hóa thủ tục đăng ký kinh doanh và hỗ trợ các hoạt động sản xuất kinh doanh.  

Hơn nữa, theo số liệu thống kê từ Tổng cục Thống kê Liên bang (Hoa Kỳ), từ năm 1992 đến năm 1998, các tổ chức kinh doanh và công ty mới ở nước này đã cung cấp trên 12 triệu việc làm mới, trong đó trên 2/3 số này từ những công ty siêu nhỏ (dưới 20 người làm việc). Trong giai đoạn từ 1994-2005, những dự án công nghiệp bởi những công ty, tổ chức kinh doanh nhỏ đã đóng góp 60 phần trăm việc làm mới. Với những công ty nhỏ ở Hoa Kỳ có dưới 100 nhân công đã nắm trên 40 triệu nhân công. Và 99,7 phần trăm ông chủ của những doanh nghiệp và 96 phần trăm ông chủ của những công ty xuất khẩu ở Hoa Kỳ là ông chủ của những tổ chức kinh doanh và công ty nhỏ.

Còn ở các nước khác thì sao? Cũng tương tự. Đơn cử Philippines, một nước rất gần Việt Nam và đang có những bước đi rất đúng đắn để tạo dựng một nền kinh tế phát triển. Sau hơn 30 năm chìm trong khủng hoảng chính trị và kinh tế, họ cũng đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế ấn tượng. Kết quả phát triển kinh tế đó, phần lớn từ công lao của những công ty nhỏ và siêu nhỏ. Lực lượng lao động trực thuộc những công ty nhỏ và siêu nhỏ chiếm 69,2 phần trăm. Hầu hết những tổ chức, công ty nằm trong diện những tổ chức công ty nhỏ.

Và Việt Nam cũng nằm trong quy luật này! Có thể thấy rằng, cộng đồng doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thời gian vừa qua đã đạt được những kết quả vô cùng quan trọng, với mục tiêu phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ giai đoạn 2011 - 2015 là thành lập mới 350.000 doanh nghiệp và phấn đấu đến ngày 31/12/2015, cả nước sẽ có khoảng 700.000 doanh nghiệp hoạt động. Ngoài những đóng góp cho nền kinh tế thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam cũng sẽ được kỳ vọng là tạo mới thêm khoảng 3,5 - 4 triệu việc làm mới trong giai đoạn 2011 – 2015.

Tuy nhiên, do rất nhiều lý do khách nhau, vì áp lực cạnh tranh, vì thiếu vốn, vì thiếu năng lực quản lí… hàng năm có tới hàng ngàn doanh nghiệp phải đóng cửa hoặc giải thể. Đơn cử, riêng năm trong năm 2014, cả nước có 74842 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới thì có tới 67.823 doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể, hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, hoặc ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký, tức là khoảng trên 90% doanh nghiệp đóng cửa. Năm 2015, khi nền kinh tế phục hồi và có tốc độ phát triển cao nhất trong mấy năm qua, số lượng doanh nghiệp thành lập mới vì thế cũng có tốc tộ tăng trưởng lớn. Tính đến tháng hết năm 2015, cả nước thành lập lập mới được 94.754 doanh nghiệp. Song, khó khăn đối với các doanh nghiệp vẫn còn rình rập, bằng chứng cho thấy, có tới 80,791, tương đương trên 85% doanh nghiệp đóng cửa hoặc giải thể. Như vậy, với tỉ lệ đóng cửa hoặc giải thể lên đến gần 90% thì mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp có lẽ phải cần đến 150 năm nữa, Việt Nam mới đạt được.

Như vậy, với những chính sách trọng tâm là cải cách kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh, tiếp tục đẩy mạnh quá trình thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá, thay đổi nhanh cơ cấu kinh tế, tăng cường sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trường nội địa và quốc tế nhằm nhanh chóng thu hẹp khoảng cách phát triển với các nước khác trong khu vực. Trong hơn 30 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế quan trọng, từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, bộ mặt của đất nước đã thay đổi theo hướng tích cực tạo đà cho nền kinh tế tăng trưởng vững vàng hơn. Tuy nhiên, công bằng mà nói, Việt Nam vẫn nằm trong số những nước có thu nhập thấp và từ những phân tích trên đây, chúng ta có thể nhận thấy mối quan hệ giữa số lượng doanh nghiệp và tổng thu nhập quốc nội. Tỷ lệ đầu người trên doanh nghiệp càng thấp thì GDP càng cao, hay nói cách khác sự phát triển số lượng doanh nghiệp tỷ lệ thuận với sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Và như vậy, Việt Nam muốn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thành công thì con đường “doanh nghiệp hóa” là giải pháp tối ưu.

Và một sân chơi để khích lệ tinh thần khởi nghiệp kinh doanh nhằm tạo cho giới trẻ khát khao làm chủ, khát khao sáng nghiệp và đồng thời cũng cần phải có những chính sách hữu hiệu, những hành động cụ thể để giúp các doanh nghiệp xây dựng và phát triển bền vững. Chính vì vậy, Hiệp hội Khởi nghiệp Quốc gia được thành lập là cần thiết.

 

[1] Đinh Việt Hòa (Số tháng 2, 2013), Phát triển thêm nhiều doanh nghiệp để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Tạp chí Lý luận Chính trị.